Đương sự tố cơ quan thi hành án làm sai khi tự ấn định lãi suất chậm thi hành án. Theo quy định, mức lãi suất chậm thi hành án là mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Tháng 3-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xử phúc thẩm vụ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam (Cần Thơ) kiện đòi nợ ông Vũ Đình Tân. Tòa bác kháng cáo của ông Tân, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND TP Cần Thơ, buộc ông Tân phải trả cho ngân hàng Phương Nam hơn 25 tỉ đồng gồm 21 tỉ đồng tiền vốn và hơn 4 tỉ đồng tiền lãi tính đến ngày 12-8-2009. Ngoài ra, ông Tân còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ.
Tự ấn định lãi suất
Một tháng sau, Ngân hàng Phương Nam gửi đơn yêu cầu thi hành án tại Cục Thi hành án dân sự TP Cần Thơ, yêu cầu ông Tân phải trả hơn 25 tỉ đồng theo bản án phúc thẩm. Cạnh đó, ngân hàng còn tính lãi phát sinh đối với khoản nợ gốc 21 tỉ đồng tính từ ngày 12-8-2009 đến ngày có đơn yêu cầu thi hành án là hơn 3,8 tỉ đồng. Ngoài ra, kể từ ngày ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Tân chậm thi hành án thì hằng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn trong hợp đồng tín dụng của ông với ngân hàng.
Thụ lý, Cục Thi hành án TP Cần Thơ đã kê biên hai thửa đất của ông Tân. Đầu tháng 8, Cục Thi hành án tổ chức bán đấu giá một thửa được hơn 29,5 tỉ đồng.
Do các bên không thỏa thuận được về việc tính lãi, ngày 17-8, Cục Thi hành án đã có công văn đề nghị Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM giải thích bản án phúc thẩm. Cụ thể, Cục Thi hành án thắc mắc là tiền lãi được tính liên tục từ ngày 13-8-2009 đến ngày ông Tân trả dứt nợ với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng hay chỉ tính lãi kể từ ngày Ngân hàng Phương Nam có đơn yêu cầu thi hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định?
Tòa chưa trả lời, ngày 31-8, Cục Thi hành án TP Cần Thơ đã chi trả cho Ngân hàng Phương Nam hơn 25 tỉ đồng theo bản án đã tuyên và gần 1,2 tỉ đồng mà Cục tạm tính lãi chậm thi hành án tính từ ngày ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án đến ngày 31-8 (Cục tự ấn định mức lãi suất chậm thi hành án là 1%/tháng trên số tiền hơn 25 tỉ đồng). Tổng cộng phía ngân hàng nhận hơn 26,2 tỉ đồng.
Còn hơn 2,6 tỉ đồng, Cục Thi hành án đem gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Với thửa đất chưa bán đấu giá còn lại của ông Tân, Cục Thi hành án vẫn giữ nguyên lệnh kê biên.
Vướng rắc rối
Phía ông Tân không đồng tình, cho rằng việc Cục Thi hành án tự áp mức lãi suất chậm thi hành án 1% để quy ra số tiền gần 1,2 tỉ đồng là không có căn cứ.
Trong trường hợp này, Cục Thi hành án phải thực hiện theo khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự và Điều 1 Quyết định số 2665 ngày 25-11-2009 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 8%/năm (0,67%/tháng). Như vậy, số tiền lãi suất chậm thi hành án của ông Tân chỉ có gần 766 triệu đồng.
Từ đó, phía ông Tân đã yêu cầu Cục Thi hành án phải trả lại hơn 3 tỉ đồng cộng lãi suất tiết kiệm, đồng thời giải tỏa kê biên thửa đất còn lại cho ông Tân vì vụ việc đã được thi hành án xong.
Trước khiếu nại gay gắt từ phía ông Tân, Cục Thi hành án đã có văn bản xin ý kiến Tổng cục Thi hành án dân sự. Do vẫn chờ ý kiến của Tổng cục Thi hành án dân sự nên đến nay, vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
|
Tính lãi chậm thi hành án sao mới đúng?
Trao đổi, chấp hành viên giải quyết vụ việc cho biết trước đây, cơ quan thi hành án vẫn áp dụng mức lãi suất chậm thi hành án là 1% căn cứ theo Công văn số 404 của Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, vị chấp hành viên thừa nhận Công văn số 404 đã bị hủy bỏ, không còn hiệu lực.
Theo luật sư Trần Thanh Phong (Đoàn Luật sư TP Cần Thơ), trong thực tiễn xét xử, án tuyên trả tiền và tiền lãi do chậm trả thường đã thành công thức là dựa vào khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản này quy định bên có nghĩa vụ chậm trả tiền phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Tại website của Bộ Tư pháp, trong trang thông tin hỏi đáp và tư vấn pháp luật có trường hợp Tổng cục Thi hành án dân sự trả lời về “lãi suất quá hạn trong giai đoạn thi hành án đối với các hợp đồng tín dụng”.
Theo Tổng cục, cách xác định thời điểm và cách tính lãi phát sinh do chậm thi hành án hiện nay căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997, Công văn số 165 ngày 18-10-2007 của TAND Tối cao và quyết định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố mức lãi suất cơ bản cho từng thời điểm.
Lãi suất chậm thi hành án được tính theo từng loại việc như sau: Kể từ ngày bản án, quyết định của tòa có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2665 ngày 1-12-2009 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước là 8%/năm.
|
GIA TUỆ - PLTP