adv1 logo Luật sư Luật Đại Việt tư vấn trên truyền hình Tổng Đài tư vấn PL 1088 Báo Dân Trí Hướng dẫn người nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam
Đặt quyền con người lên hàng đầu
Tại một hội thảo do Liên đoàn Luật sư Việt Nam vừa tổ chức, nhiều luật sư có tên tuổi đã đề nghị ghi nhận nguyên tắc thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự. Nếu nguyên tắc này được áp dụng thì sẽ giảm án oan, sai.

Sau khi báo phản ánh, đã có ý kiến băn khoăn rằng liệu nguyên tắc này có phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta, có ảnh hưởng đến mục tiêu phòng chống tội phạm không. Chúng tôi xin giới thiệu bài phân tích của PGS-TS Nguyễn Thái Phúc (Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp tại TP.HCM).

Hoạt động tố tụng hình sự thực chất là hoạt động giải quyết xung đột pháp lý giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội và lợi ích của cá nhân tham gia tố tụng với những tư cách khác nhau. Tùy thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ giữa hai nhóm lợi ích này mà hoạt động tố tụng hình sự ở các quốc gia khác nhau, ở các thời đại lịch sử khác nhau được tổ chức thực hiện khác nhau.

Hai nhiệm vụ quan trọng như nhau

Ở nước ta, Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 ghi nhận mục đích, nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự là “… chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội… góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.

Như vậy, có thể thấy mục đích của hoạt động tố tụng hình sự ở ta đã coi nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân quan trọng như nhau. Nói cách khác, đây là nhiệm vụ có tính hai mặt của hoạt động tố tụng hình sự: Vừa bảo vệ lợi ích nhà nước vừa bảo vệ quyền, tự do của cá nhân.

luật đại việt,văn phòng luật,luật dân sự,luật kinh doanh,luật hôn nhân,công chứng 

 

Bảo vệ quyền con người phải được thể hiện đậm nét hơn trong mục đích, nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự. Trong ảnh: Luật sư đang bào chữa cho bị cáo tại một phiên tòa lưu động. Ảnh: HTD

Phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, có thể thấy trong một số trường hợp, luật coi trọng bảo vệ lợi ích của cá nhân hơn lợi ích đấu tranh phòng chống tội phạm:

+ Quy định về giới hạn xét xử tại Điều 196 với nội dung cơ bản là tòa chỉ có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.

+ Quy định tại Điều 238 không cho phép trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị theo hướng bất lợi, làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.

+ Quy định tại Điều 249 không cho phép tòa cấp phúc thẩm tăng hình phạt, áp dụng điều khoản của BLHS về tội nặng hơn nếu không có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu theo hướng này.

+ Quy định tại Điều 278 kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bất lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật...

Ngược lại, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 cũng có những quy định thiên về bảo vệ lợi ích đấu tranh phòng chống tội phạm hơn là bảo vệ lợi ích của cá nhân. Chẳng hạn quy định về thẩm phán trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo các điểm a, b khoản 1 Điều 179; quy định tòa hoãn xử, trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo Điều 199...

Thay đổi thứ tự ưu tiên

Trong điều kiện hội nhập quốc tế, sự tương tác giữa các quốc gia đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ và năng động. Lịch sử của tố tụng hình sự thế giới đã phát triển theo hướng ngày càng nhân văn hơn, ngày càng đề cao quyền con người như là những giá trị cao nhất.

Bảo vệ quyền con người phải được thể hiện đậm nét hơn trong mục đích, nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự. Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã bắt kịp xu thế chủ đạo đó khi đưa ra yêu cầu: “Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”.

Rõ ràng so với Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 thì Nghị quyết 49 đã thay đổi thứ tự ưu tiên khi đặt yêu cầu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người trước yêu cầu đấu tranh chống tội phạm!

Theo chúng tôi, thay đổi này là định hướng hết sức quan trọng cho việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 mà trước hết là sửa đổi Điều 1. Cụ thể là phải khẳng định hoạt động tố tụng hình sự trước hết là bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khi họ tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự, chống lại sự lạm quyền của các cơ quan tố tụng rồi sau đó mới là nhiệm vụ phát hiện, xử lý kịp thời, công minh tội phạm và kẻ phạm tội. Các quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 cũng cần phải được xem xét sửa đổi cho phù hợp với tư tưởng chủ đạo này.

Thừa nhận, không có nghĩa là lạm dụng

Trước hết, phải khẳng định nguyên tắc thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội là một nguyên tắc rất tiến bộ. Tuy nhiên, với tình hình thực tiễn của nước ta, có người đã e ngại rằng nếu áp dụng sẽ làm giảm hiệu quả phòng chống tội phạm, tạo cơ hội cho một số cán bộ tố tụng cố tình bỏ lọt tội phạm để tiêu cực...

Theo tôi, ở nước ta có không ít trường hợp dù chứng cứ buộc tội không thuyết phục, yếu ớt, mâu thuẫn nhưng cơ quan điều tra, VKS vẫn cố khởi tố, truy tố nghi can ra tòa. Nhiều trường hợp hồ sơ trả tới trả lui qua nhiều năm vẫn không thể bổ sung được chứng cứ kết tội mới. Dù vậy, thay vì tuyên bị cáo vô tội, các tòa lại cứ tuyên trả hồ sơ khiến vụ án bị kéo dài. Rất nhiều vụ án, có được minh oan, xin lỗi thì người bị oan cũng đã phải khổ sở với bao tháng năm lao tù đằng đẵng.

Việc ghi nhận nguyên tắc thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội là cần thiết. Tuy nhiên, luật cũng cần quy định rõ phạm vi, điều kiện áp dụng nguyên tắc này chứ không phải trường hợp phạm tội nào cũng tha, cũng bỏ lọt vô tội vạ. Bởi lẽ nguyên tắc này chỉ đặt ra để các cơ quan tố tụng hành xử trong trường hợp không đủ chứng cứ buộc tội, phải chọn lựa giữa việc tuyên bố một người không phạm tội với việc kết án oan.

Điều này xuất phát từ nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tố tụng: Một khi không chứng minh được tội phạm thì phải tuyên bố người ta không phạm tội.

 TRẦM NGUYÊN (Quận Bình Thạnh, TP.HCM)

NGUYỄN THÁI PHÚC - PL 

Họ và tên
Email
Nội dung
Mã xác nhận
Web link
Hỗ trợ trực tuyến
Công chứng
Kinh doanh-Thương mại
Luật dân sự - hình sự
Luật sư
Call me!
Hot line
0933.668.166
  • Truong Thanh Media
  • http://dayvahoc.info/showthread.php
  • Bộ Tư Pháp
  • Ngân hàng dầu khí Toàn cầu
Lượt truy cập:
4235674
Đang Online:
14